Mục tiêu phát triển bền vững là sự tiếp nối của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals – MDG) .1

E_SDG goals_icons-individual-rgb-01E_SDG goals_icons-individual-rgb-02E_SDG goals_icons-individual-rgb-03E_SDG goals_icons-individual-rgb-04E_SDG goals_icons-individual-rgb-05E_SDG goals_icons-individual-rgb-06E_SDG goals_icons-individual-rgb-07E_SDG goals_icons-individual-rgb-08E_SDG goals_icons-individual-rgb-09E_SDG goals_icons-individual-rgb-10E_SDG goals_icons-individual-rgb-11E_SDG goals_icons-individual-rgb-12E_SDG goals_icons-individual-rgb-13E_SDG goals_icons-individual-rgb-14E_SDG goals_icons-individual-rgb-15E_SDG goals_icons-individual-rgb-16E_SDG goals_icons-individual-rgb-17 

Các SDG dựa trên sáu chủ đề bao gồm: nhân phẩm, con người, hành tinh, quan hệ đối tác, công lý và thịnh vượng. Hai chủ đề cuối cùng là chủ đề mới 2 . SDG toàn diện hơn so với MDG và bao gồm 17 mục tiêu, được xác định bởi 169 mục tiêu cụ thể và 232 chỉ tiêu. Những mục tiêu này vượt ra tầm phát triển xã hội, bao gồm cả các mục tiêu đối với biến đổi khí hậu, bất bình đẳng kinh tế,  đổi mới, tiêu thụ bền vững, hòa bình, công bằng… Mỗi mục tiêu được kết nối với nhau và thành công trong một mục tiêu thường sẽ giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực khác. 3

Từ MDG tới SDG

Việt Nam đã bản địa hoá các MDG thông qua việc thực hiện Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo toàn diện (CPRGS) (2003). Nó phù hợp với MDG trong bối cảnh quốc gia để hình thành các Mục tiêu Phát triển Việt Nam (VDG). VDG là cơ sở cho việc xây dựng hai Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm (SEDP) từ 2006 đến 2010 và 2011 đến 2015. 4

Khu vực mới phát triển ở phía Tây Nam Hà Nội, nơi có Trung tâm Hội nghị Quốc gia và Bảo tàng Hà Nội; Ảnh chụp tháng 6 năm 2018 bởi Lan Nguyen qua Flickr. Giấy phép CC-BY-SA 2.0

 

Trong khi các kế hoạch nói trên góp phần tạo nên những tiến bộ ấn tượng trong việc giảm nghèo,  5 đã xuất hiện những thách thức nhằm đảm bảo mọi công dân được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là với phụ nữ, dân tộc thiểu số, người di cư đến thành thị và công nhân không chính thức –  những người tiếp tục thiếu bảo trợ xã hội. Trong Chương trình Nghị sự Thiên niên kỷ, biến đổi khí hậu cũng đã trở thành một mối đe dọa ngày càng tăng đối với phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. 6

Đến tháng 9/2015, Việt Nam mới chỉ đáp ứng được ba trong số tám MDGs (giảm nghèo, giáo dục và bình đẳng giới), và một số mục tiêu cụ thể khác liên quan đến tỷ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ sơ sinh, kiểm soát bệnh truyền nhiễm 7 Phần lớn nhiệm vụ cần thiết để đáp ứng các MDG vẫn chưa hoàn thành vào thời điểm này. 8

Trước tình hình đó, năm 2017, Chính phủ Việt Nam và Liên hợp quốc đã xây dựng một kế hoạch chiến lược chung (One Strategic Plan – OSP) nhằm lồng ghép SDG với Chiến lược phát triển kinh tế xã hội (2011-2020) và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (2016-2010) 9. Kế hoạch này tập trung vào bốn lĩnh vực chính, được sử dụng để thông báo cách thức thực hiện SDG 10 (xem hình dưới đây)

 

Bản địa hóa SDG tại Việt Nam

Với sự hỗ trợ của UNDP, Việt Nam đã xây dựng Kế hoạch Hành động Quốc gia (NAP) hướng tới SDG để xem xét các chiến lược, chính sách, chương trình phát triển hiện hành xem chúng phù hợp ở mức độ nào với SDG. Kế hoạch này được sử dụng để phát triển các mục tiêu SDG của Việt Nam (VSDG) với sự tham vấn của các bộ, cơ quan cấp tỉnh, xã hội dân sự và các đối tác phát triển. 11 Các VSDG đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào năm 2016 và cũng có 17 mục tiêu chung nhưng chỉ có 115 mục tiêu cụ thể. Có sự tương đồng và khác biệt giữa các mục tiêu toàn cầu SDG và mục tiêu quốc gia VSDG. 12

Nguồn: Văn phòng Phát triển bền vững, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Thông tin trong bảng trên được trích xuất từ ​​Báo cáo tổng hợp: Xem xét 17 mục tiêu chung và 169 mục tiêu cụ thể của Chương trình phát triển bền vững 2030 của Liên hiệp quốc để đánh giá tình hình và xác định các mục tiêu phù hợp, khả thi về điều kiện Việt Nam (2016), truy cập tháng 6/2018.

Phương tiện thực hiện

Để có thể đạt được các VSDGs, một số khung pháp lý và chính sách đã được thiết lập tại Việt Nam, bao gồm:

  • Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững (2004) 13
  • Chiến lược phát triển bền vững 2011-2020, 14
  • Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh (2014)15
  • Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2020; 16
  • Kế hoạch hành động quốc gia về phát triển bền vững ở Việt Nam, 17

NAP xác định các mục tiêu cụ thể trong giai đoạn 2017-2020 và 2020 – 2030. Tài chính để thực hiện NAP sẽ được tiếp cận thông qua ngân sách nhà nước, khu vực tư nhân, cũng như các nguồn nước ngoài, bao gồm cả hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Một Quỹ phát triển bền vững đã được thiết lập để huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để đạt được SDG. 18

Trong khi để thực hiện MDG cần hàng tỷ đô la, việc thực hiện SDG cần hang nghìn tỷ đô la  19 Tuy nhiên, sự suy giảm dần dòng vốn FDI vào các lĩnh vực then chốt và nợ công ngày càng tăng của Việt Nam là những thách thức lớn. 20 21

Trọng tâm của ODA được xác định bởi Kế hoạch chiến lược chung (2017-2021), dựa trên sự nhất trí giữa Chính phủ Việt Nam và Liên hiệp quốc về các ưu tiên phát triển quốc gia. 22

Dân số 93 triệu người của Việt Nam dự kiến sẽ đạt đỉnh điểm từ năm 2020 đến năm 2030 23 Như vậy, thanh niên được xem là đặc biệt quan trọng đối với nỗ lực quốc gia để đạt được các SDG. 24

Giám sát và đánh giá

Ủy ban Thống kê Liên Hợp Quốc đã xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê để theo dõi và đánh giá việc thực hiện SDGs và 230 chỉ tiêu của họ. Việt Nam đã xây dựng các khung pháp lý toàn diện để xây dựng các số liệu thống kê này, bao gồm: Luật Thống kê Việt Nam 2015; Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, một Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia hiện đang bao gồm 39 chỉ số SDGs 25

Tiến trình của Việt Nam đối với mục tiêu này được nêu dưới đây:

Tính khả thi của 230 chỉ số

129/230 chỉ số là khả thi;

101/230 chỉ số không khả thi (Không có phương pháp luận hoặc có nhưng không rõ ràng, các chỉ số có khái niệm mới, chỉ số yêu cầu phân tách mới và cần nhiều thời gian để thu thập các giải pháp nghiên cứu, lựa chọn thay thế).

Đường cơ sở / cơ sở dữ liệu

89/230 chỉ số có sẵn dữ liệu

141/230 chỉ số không có sẵn dữ liệu.

Tích hợp chỉ số vào hệ thống thống kê quốc gia

30 chỉ số đã được tích hợp vào Luật Thống kê năm 2015

(Nguồn: Báo cáo của MPI về “Tăng cường thực hiện chương trình nghị sự năm 2030 tại Việt Nam”)

Các yêu cầu báo cáo về tiến độ thực hiện SDG được nêu rõ trong Kế hoạch Hành động Quốc gia để thực hiện Chương trình Phát triển Bền vững 2030. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm chính và điều phối hoạt động của từng ngành và các cấp chính quyền trong kế hoạch phát triển xuống đến cấp xã.

Chính phủ Việt Nam cho rằng báo cáo về việc thực hiện SDGs cần phải có sự tham gia rộng rãi của tất cả các bên liên quan. 26 Chia sẻ thông tin về việc thực hiện SDGs được cho là chìa khóa để hoạch định chính sách hiệu quả. Tổng cục Thống kê Việt Nam đã xác định nhiệm vụ chính để phát triển cơ sở dữ liệu SDG tại Việt Nam cho phép người dân địa phương tham gia vào quá trình theo dõi, cũng như phục vụ công tác báo cáo quốc tế và so sánh kết quả theo khu vực. 27 Việt Nam là một phần của Đánh giá quốc gia tự nguyện năm 2018 của Diễn đàn Chính trị cấp cao về Phát triển bền vững.

 

References