Hỏi & đáp
Số lượt truy cập:
 

Nhân vật - sự kiện
THÂN PHỤ THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ LÀ AI?

    Thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ là ai? là câu hỏi mà bao năm các nhà sử học đang tìm lời giải. Trong bài viết này, tôi viết ngắn gọn về thân phụ Thái sư Trần thủ Độ mà tôi tìm hiểu, nghiên cứu, phát hiện được trong các tư liệu lịch sử, xin được giới thiệu để con cháu họ Trần cùng tìm hiểu. Trải bao thăng trầm của lịch sử, hậu duệ của Chiêu Quốc Vương Trần ích Tắc đã có 18 nhánh họ, sống rải rác ở Linh Lăng, Quế Dương, Liễu Châu (Trung Quốc). Người hậu duệ đời thứ 27 thuộc ngành trưởng là ông Trần Định Nhân, chủ quán cà phê ở thị trấn Nhạc Dương bên hồ Động Đình ( tỉnh Hồ Nam Trung Quốc ) còn lưu giữ tại từ đường cuốn “ Phả tộc Trần” vô cùng quý giá. “ Phả tộc Trần” do Chiêu Quốc Vương Trần ích Tắc viết sau năm 1285 khi ông sống lưu vong ở Hồ Nam - Trung Quốc, là cuốn gia phả viết công phu, đầy đủ nhất về họ Trần từ năm 227 trước Công nguyên đến năm 1300 sau Công nguyên.

       

          Theo chính sử thời Trần còn lưu giữ tại Viện Lịch sử Việt Nam và "Phả tộc Trần "do Chiêu Quốc Vương Trần ích Tắc biên soạn thì gốc tích xa xưa từ đời Chiến quốc, họ Trần thuộc nhóm tộc người Bách Việt sống ở đất Mân (Phúc Kiến - Trung Quốc). Năm 227 trước công lịch, Phương chính hầu Trần Tự Minh đang làm quan cho Triệu Đà, vì mâu thuẫn giữa người Hán và người Bách Việt ông đã theo dòng người Bách Việt di cư xuống phía Nam. Tự Minh được vua An Dương Vương thu nạp, trở thành vị tướng tài ba, cùng Cao Lỗ giúp vua chống lại Triệu Đà. Khi thành Cổ Loa thất thủ, đất nước rơi vào tay cha con Triệu Đà, Trần Tự Minh lui về sống ẩn dật ở đất Kinh Bắc. Dòng họ Trần trải qua 700 năm ở Kinh Bắc phân ra nhiều nhánh, nhưng dòng thống tôn đến đời Trần Tự Viễn (582 - 637) nổi lên như một nhân tài kiệt xuất của xứ Giao Châu. Hồi ấy ở Từ Sơn có sư Pháp Hiền, đệ tử của Đại sư Tì-ni-đa-lưu-chi (ấn Độ) đang dụng công truyền bá đạo Phật Thiền tông, thu nạp rất đông môn đệ, cư tăng lúc nào cũng hơn 300 người. Thiền tông phương Nam bấy giờ thịnh nhất”. Chú bé mồ côi kiếm củi gần chùa là Trần Tự Viễn được sư Pháp Hiền thu nạp, yêu mến dạy cho học thông tam giáo (Phật - Nho - Lão) và cả võ công nữa. Sau nhiều năm tu luyện, Tự Viễn trở thành môn đệ xuất sắc nhất của Phật phái Thiền tông và cũng rất nổi tiếng võ công cao cường. Môn phái võ thuật của ông đặc sắc nhất là Hổ quyền và Ưng - Xà quyền. Tự Viễn kế nghiệp thầy Pháp Hiền say sưa truyền bá đạo Phật Thiền tông và đem võ công đặc sắc của mình cùng đệ tử giúp dân chống lại sự đô hộ hà khắc của nhà Tuỳ, nhà Đường. Dân khắp vùng đều sùng kính, tôn ông là Phật sống. Có lẽ đây là lý do giải thích vì sao dòng dõi họ Trần sau này rất thượng võ, nhưng cũng rất sùng đạo Phật, khai sáng ra Thiền phái Trúc Lâm trên núi Yên Tử. 

      Họ Trần dòng thống tôn có chữ đệm là “Tự” cư ngụ ở Kinh Bắc, truyền đến đời Trần Tự An (1010 - 1077) mỗi ngày thêm hiển hách trong giới võ lâm của Đại Việt. Để phân biệt với các võ phái khác, Tự An đặt tên cho võ phái của mình là Đông A, triết tự chữ “Trần” ra hai chữ “Đông” “A” mà thành. Thời ấy ở Đại Việt ta có ba võ phái nổi danh: võ phái Lĩnh Nam xuất phát từ đất Mê Linh sau lưu truyền quanh vùng Tam Đảo - Ba Vì; võ phái Hoa Sơn xuất phát ở Kinh Bắc rồi lan truyền ra Thăng Long và các vùng phụ cận và võ phái Đông A của Tự An. Ba võ phái trên đều tràn đầy lòng tự tôn dân tộc, nhưng có sự khác nhau về hệ tư tưởng, lại muốn thống trị giới võ lâm cả nước nên mâu thuẫn khá gay gắt. Phái Lĩnh Nam sùng bái đạo Lão. Hai phái Hoa Sơn và Đông A cùng xuất phát ở Kinh Bắc, nhưng Hoa Sơn theo Phật giáo Nghiêm Hoa tông, còn Đông A theo Phật giáo Thiền tông. Phái Hoa Sơn thuộc hoàng tộc họ Lý nên đương nhiên lấn át phái Lĩnh Nam và Đông A về nhiều phương diện. Thế nhưng Đông A với sự dìu dắt của Trần Tự An hồi ấy có “Côi Sơn tam anh” là ba nhân vật võ công lừng lẫy: Thanh Mai, Tự Mai và Thông Mai. Trước khi qua đời, Tự An khuyên con trai Tự Mai nên tìm cách chuyển võ đường Đông A đi nơi khác, tránh sự xung đột với phái Hoa Sơn, có hại cho sự nghiệp chung của võ lâm Đại Việt. Lúc đầu Tự Mai chuyển đến ở Đông Triều - Chí Linh, sau đến đời con (khoảng cuối thế kỷ XI) là Trần Tự Kinh chuyển đến dừng chân ở Tức Mạc với hai người con trai rất giỏi võ là Trần Tự HấpTrần Tự Duy. Về cuối đời, ông nghe theo lời của con trưởng Tự Hấp chuyển hẳn về đất Thái Đường, định cư lâu dài, có nhiều ân đức với dân trong vùng. Đến đời Tự Hấp kế tục làm trưởng môn phái võ Đông A, thanh thế họ Trần đã rất lớn. Huyền tích trong tộc phả giải thích lý do họ Trần rời Tức Mạc về Thái Đường khá ly kỳ: Sau khi Lý Nhân Tông chết, triều đình có sự rối ren. Một hôm Tự Kinh và hai con là Tự Hấp và Tự Duy cùng mấy chục đệ tử đi thuyền trên sông Cái, Tự Hấp phát hiện thấy có xác người bị đóng bè trôi sông liền sai thủ hạ vớt lên. Trong số môn đệ phái Đông A có Phạm Tử Tuệ giỏi về y thuật. Ông phát hiện thấy xác còn hơi ấm, kinh mạch trì bế nhưng chưa tắt hẳn nên hết lòng cứu chữa theo lệnh của Tự Hấp. Kẻ được cứu nạn là Đoàn Thông quê ở lộ Hồng Châu (Vĩnh Phúc ngày nay). Ông ta bị một viên quan gian ác ở Thăng Long là Nguyễn Cố sát hại. Vốn là thầy địa lý có tiếng tăm, Đoàn Thông mách với Tự Hấp rằng ở đất Thái Đường có khu đất tụ nhiều linh khí, nếu đặt mộ tổ vào đó ắt có ngày sẽ phát đế vương. Tự Hấp nghe xong cả mừng xin cha cho đi gấp về quê cũ Kinh Bắc chuyển mộ cụ cố Trần Tự Mai về đặt ở Thái Đường, rồi chuyển cả gia quyền về đó sinh sống. Nhờ vậy gia tộc họ Trần mỗi ngày thêm phát đạt, võ môn Đông A càng thêm hưng thịnh, thu hút nhân tài khắp nơi về tụ họp, môn đệ ngày một thêm đông, thanh thế võ đường Đông A ngày thêm lớn, con cháu có nhiều người văn võ song toàn có tài kinh bang tế thế.

      Trần Tự Hấp ở đất Thái Đường sinh ra Trần Lý, Lý sinh ra Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung. Thừa sinh ra Trần Liễu và Trần Cảnh. Người em ở đất Lưu Xá bên cạnh là Trần Tự Duy vì mâu thuẫn sâu sắc với họ Lưu, tàn sát họ này quá nhẫn tâm nên tổn hao âm đức, chỉ sinh được Trần Thủ Huy, đến đời Huy chỉ sinh ra Thủ Độ rồi tuyệt tự (chính  sử  ghi: Trần Thủ Độ sinh ra ở Lưu xá)

    Theo gia phả của con cháu Chiêu-quốc vương Trần ích Tắc tại Trường-sa Trung-quốc, thì Trần Thủ Huy là một tướng giỏi đời vua Lý Anh Tông, nên được nhà vua giả công chúa Lý Đoan Nghi làm vợ. Công chúa Lý Đoan Nghi là con của vua Lý Anh Tông với bà thần phi Bùi Chiêu Dương, nên Trần Thủ Độ là cháu ngoại vua Lý Anh Tông, là con của Phò-mã Trần Thủ Huy và Công chúa Đoan Nghi (con vua Lý Anh Tông).

      Như vậy, nếu xét từ đời Tự Kinh thì Tự Hấp thuộc ngành trưởng, Tự Duy thuộc ngành thứ. Đến đời Trần Thừa và Thủ Độ quan hệ giữa hai người là anh em cùng họ khác cành và đã sang đời thứ ba. Đó là lý do vì  sao Trần Lý hứa gả Thị Dung cho Thủ Độ, theo luật tục họ Trần cứ ba đời quay lại thông gia với nhau (nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học để lý giải về những bí ẩn xung quanh Trần Thủ Độ và họ Trần, như: tại sao tại đền Lim(Bắc Ninh) lại thờ Thái sư Trần Thủ Độ, tại sao Trần Thủ Độ lại lấy chị họ là Trần Thị Dung, tại sao nhà Trần dời tức Mạc(Nam Định) về Thái Đường(Thái Bình), tại sao đạo phật thời nhà Trần lại trở thành Quốc đạo....và những điều phi lý khác ).

 

 

 

 

 

 

 

 

Tác giả : TS. Trần Hoàng Bách
 
Bản quyền thuộc LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT THÁI BÌNH
Địa chỉ: Số 6A- Bồ Xuyên - TP. Thái Bình, Thái Bình. Điện thoại: 036.3740.223/ 3731.947/ 3733.635 Fax:036.3740.223  Email: